Articles by "Quản Trị"

Dựa trên diễn biến của thị trường bất động sản trong năm 2018 cùng các giải pháp được triển khai mạnh mẽ trong thời gian tới, một số chuyên gia nhận định thị trường 2019 có thể vẫn xảy ra tình trạng tăng giá đất nền cục bộ tại một số khu vực nhưng giá sẽ không tăng đột biến và thị trường không có nguy cơ xảy ra "bong bóng".


Theo ông Nguyễn Văn Sinh – Thứ trưởng Bộ Xây dựng, năm 2018, thị trường bất động sản phát triển tương đối ổn định. Thị trường đã có sự sôi động, lan tỏa trên hầu hết các vùng, miền. Thanh khoản ở các dự án tương đối tốt, lượng giao dịch nhà ở tăng cao. Nhưng trên từng địa bàn vẫn xảy ra những cơn sốt nóng, nhất là tại TP.HCM, Vân Đồn, Phú Quốc, Bắc Vân Phong…
Ông Nguyễn Văn Sinh cho rằng nguyên nhân dẫn đến thị trường bất động sản năm 2018 vẫn xảy ra một số hiện tượng sốt nóng là do một số nhà đầu tư lợi dụng thông tin thành lập 3 đặc khu để thu gom, đẩy giá đất lên cao. Bên cạnh đó, một số chính quyền địa phương chưa chú trọng quản lý về giao dịch và sử dụng đất đai.
Thiếu nhà ở bình dân
Tuy nhiên, ông Sinh cho rằng những bất ổn đó đã được Nhà nước điều tiết kịp thời và hiệu quả. "Các giải pháp hạ "cơn sốt" đất nền thành công mà chúng ta vừa đề cập ở trên là một minh chứng rõ nét. Cùng với đó, hệ thống chính sách liên quan đến thị trường bất động sản cũng đang phát huy tính tích cực", ông Sinh nói.
Tại các cuộc hội thảo, tọa đàm về thị trường bất động sảngần đây, nhiều chuyên gia đã đề cập đến tình trạng lệch pha cung – cầu nhà ở. Thực tế cũng cho thấy thị trường đang có nguy cơ thừa nguồn cung nhà ở trung, cao cấp, trong khi nguồn cung nhà ở bình dân đang rất thiếu.
Theo thống kê từ các sàn giao dịch bất động sản, nhu cầu về nhà ở thuộc phân khúc trung, cao cấp (giá từ 25 triệu đồng/m2 trở lên) chỉ chiếm khoảng 20 – 30% tổng nhu cầu thị trường, song các chủ đầu tư thường tập trung phát triển phân khúc này. Trong khi đó, nhu cầu về nhà ở bình dân, nhà xã hội, nhà giá thấp chiếm tới 70 – 80% lại không được chú trọng đầu tư.
Riêng với phân khúc nhà ở xã hội tại khu vực đô thị, đến nay mới hoàn thành được 3,92 triệu m2, chỉ đạt khoảng 31% mục tiêu đề ra, nhưng hiện lại đang gặp rất nhiều khó khăn do thiếu nguồn tín dụng cho vay ưu đãi.
Một vấn đề nữa mà nhiều nhà đầu tư thường lo ngại là cơ chế, chính sách liên quan đến giao đất, cho thuê đất, đầu tư kinh doanh các dự án condotel, officetel, hometel… đến nay chưa rõ ràng, dễ dẫn đến rủi ro cho người mua.
Ngoài ra, tình trạng tranh chấp trong quản lý, sử dụng nhà chung cư giữa chủ đầu tư, ban quản trị và cư dân, tranh chấp trong giao dịch mua bán nhà ở hình thành trong tương lai vẫn còn diễn ra ở nhiều tòa nhà chung cư, nhiều dự án, ảnh hưởng không nhỏ tới niềm tin của người tiêu dùng và gây bất ổn xã hội.
Điều tiết thị trường ổn định
Ông Nguyễn Văn Sinh chia sẻ, hiện nay, Bộ Xây dựng đang nỗ lực phối hợp với các bộ, ngành liên quan để đưa ra các giải pháp khắc phục những hạn chế của thị trường bất động sản.
Bộ này sẽ tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành rà soát, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật về kinh doanh bất động sản, nhà ở, xây dựng, quy hoạch đô thị nhằm hoàn thiện môi trường đầu tư, kinh doanh bất động sản.
Bộ sẽ phối hợp với các bộ, ngành liên quan nghiên cứu, sửa đổi bổ sung hoặc xây dựng mới chính sách thuế nhằm chống đầu cơ trong lĩnh vực bất động sản, góp phần bình ổn thị trường và quản lý sử dụng hiệu quả tài nguyên đất đai.
Đối với tính pháp lý của condotel, officetel, biệt thự nghỉ dưỡng…, ông Sinh cho biết Bộ Xây dựng sẽ phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường nghiên cứu bổ sung, hướng dẫn làm rõ quy định về chế độ sử dụng đất; cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu công trình; nghiên cứu ban hành quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng, quy định về quản lý vận hành…
Một nhiệm vụ chính trị trọng tâm là đẩy mạnh phát triển nhà ở xã hội, Bộ sẽ tiếp tục đề xuất với các cơ quan có thẩm quyền sớm bố trí nguồn vốn cấp bù lãi suất cho 4 ngân hàng thương mại để cho vay nhà ở xã hội. Đồng thời, Bộ sửa đổi, bổ sung chính sách hỗ trợ về nhà ở đối với các đối tượng là cán bộ, công chức, viên chức có khó khăn về nhà ở.
Để đưa ra quyết định thu hồi, tạm dừng, giãn, hoãn hoặc điều chỉnh cơ cấu sản phẩm bất động sản cho phù hợp với quy hoạch và nhu cầu thực tế của từng nhóm đối tượng, ông Sinh cho biết Bộ Xây dựng tiếp tục rà soát, phân loại các dự án bất động sản.
Bộ cũng sẽ kiểm soát chặt chẽ việc cho phép đầu tư các dự án mới, nhất là các dự án nhà ở cao cấp, các dự án khu du lịch nghỉ dưỡng… để khắc phục tình trạng lệch pha cung – cầu.
Dựa trên diễn biến của thị trường trong năm 2018 cùng các giải pháp được triển khai mạnh mẽ trong thời gian tới, ông Sinh dự báo thị trường 2019 có thể vẫn xảy ra tình trạng tăng giá đất nền cục bộ tại các khu vực có triển khai hoặc hoàn thiện các dự án cơ sở hạ tầng lớn, các khu đô thị mới được đầu tư đầy đủ hạ tầng…
"Thị trường bất động sản trong năm nay sẽ tiếp tục phát triển ổn định, giá sẽ không tăng đột biến, không có nguy cơ xảy ra bong bóng", ông Sinh nhấn mạnh.

Quá trình sản xuất, kinh doanh đang không ngừng thay đổi theo hướng tự động hóa và chuyên môn hóa. Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp phải đương đầu với thách thức mới là làm thế nào để quản trị hiệu quả các nhóm làm việc.


Nhóm làm việc ngày càng phổ biến
Nhóm làm việc (team) là một nhóm người cùng làm việc với nhau, cùng chịu trách nhiệm, hướng về một mục tiêu chung. Như vậy, nhóm làm việc khác với tập thể (group) được hình thành để thỏa mãn các nhu cầu xã hội, nhu cầu quan hệ của con người, kể cả các nhóm lợi ích (có cùng mục tiêu lợi ích) hoặc nhóm bạn bè (có đặc điểm tương đồng).
Nhóm làm việc ngày càng phổ biến vì hình thức này linh hoạt hơn và đáp ứng những thay đổi tốt hơn cơ cấu phòng ban truyền thống. Nhóm có khả năng tập hợp, triển khai, tái tập trung, giải thể nhanh hơn.
Nhóm làm việc còn tạo ra động lực tốt hơn thông qua việc công nhận kết quả cá nhân riêng rẽ khi công việc yêu cầu kỹ năng, sự phán đoán và kinh nghiệm phức tạp.
Hiện nay trên thế giới, nhiều công ty đã thành lập một số dạng thức nhóm làm việc phù hợp hơn với quá trình đổi mới cấu trúc và công nghệ trong sản xuất, kinh doanh. Phổ biến nhất là các nhóm sản xuất và nhóm chất lượng.
Nhóm sản xuất (production cells) là nhóm công nhân sản xuất toàn bộ sản phẩm hay các thành phần của sản phẩm, thay thế dây chuyền sản xuất, có thể gồm từ 2 đến 50 nhân viên, mỗi nhóm có đầy đủ máy móc và thiết bị cần thiết.
Nhóm chất lượng là một nhóm nhỏ nhân viên giám sát năng suất và chất lượng. Trong nhiều doanh nghiệp, các nhóm giải quyết vấn đề này là một phần của quản trị chất lượng toàn diện (TQM).
Mặt khác, còn có các nhóm mục đích đặc biệt (special - purpose teams), được hình thành để xử lý các vấn đề cụ thể và cải thiện quy trình công việc hoặc chất lượng của sản phẩm, dịch vụ. Các nhóm này thường gồm hỗn hợp nhân viên, giám sát viên và nhà quản trị.
Để tăng cường tính tự chủ và tự quản của nhóm làm việc, các công ty còn thành lập nhóm làm việc tự điều hành (self - directed work teams), gồm nhân viên được phân công hoàn thành một nhóm công việc và nhiệm vụ nào đó. Nhóm có quyền tự quyết cao khi thực hiện công việc, tự chịu trách nhiệm lên kế hoạch, điều phối công việc.
Một thách thức thú vị cho dạng nhóm này là sự xuất hiện hay phát triển các lãnh đạo nhóm. Khác với vai trò truyền thống của giám sát viên hay nhà quản trị, lãnh đạo các nhóm này là người tạo thuận lợi (facilitator) để hỗ trợ nhóm, tương tác với các nhóm và những nhà quản trị khác của tổ chức. Lãnh đạo nhóm được luân chuyển trong các giai đoạn khác nhau của công việc cần năng lực chuyên môn khác nhau.
Đã xuất hiện hình thức nhóm ảo, trong đó các thành viên nhóm hiếm khi tương tác trực tiếp, chủ yếu sử dụng máy tính và mạng để liên kết với nhau, thực hiện những mục tiêu chung. Để các nhóm ảo hoạt động hiệu quả, nhà quản trị phải tạo dựng được sự tin cậy giữa các thành viên, quá trình tiến triển của nhóm được giám sát chặt chẽ, nỗ lực và kết quả của nhóm phải được đưa ra công khai thông qua tổ chức.
Quản trị nhóm hiệu quả
Quản trị nhóm hiệu quả là làm cho nhóm đạt được mục tiêu đề ra, thành viên hướng đến mục tiêu chung, quản trị tốt xung đột và chịu trách nhiệm rõ ràng.
Để có được những đặc điểm đó, nhóm cần được hoạt động trong môi trường tốt, có đầy đủ nguồn lực hỗ trợ nhận được từ tổ chức, thành viên nhóm tin cậy lẫn nhau và tin tưởng lãnh đạo, hệ thống đánh giá thành tích và tưởng thưởng công bằng và phù hợp. Tuy nhiên, nhân tố chính dẫn đến thành công vẫn là vai trò của quản trị nhóm.
Trước tiên, quản trị nhóm giữ vai trò quan trọng trong việc lựa chọn và quyết định nhân sự của nhóm. Một nhóm hoạt động hiệu quả thường có những cá nhân đa dạng về kỹ năng chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng giải quyết vấn đề và ra quyết định, kỹ năng tương tác... Mặt khác, nhóm cần lựa chọn những thành viên dựa trên tính cách và sở thích của họ.
Những người tận tâm, chu đáo rất có giá trị cho nhóm. Thành viên các nhóm mở giao tiếp tốt hơn, có thể dẫn đến sáng tạo và đổi mới nhiều hơn. Phát huy hiệu quả của sự đa dạng trong nhóm, bảo đảm vai trò khác biệt đều được đáp ứng thường phụ thuộc vào tình huống và khả năng của lãnh đạo nhóm.
Kế đến, quản trị nhóm là vạch ra những chuẩn mực chung của nhóm và thiết kế quy trình, công việc hợp lý cho nhóm. Những chuẩn mực này bao gồm việc xác định rõ ràng mục tiêu, yêu cầu tham gia và lắng nghe lẫn nhau, khuyến khích bất đồng tích cực và quyết định đồng lòng, giao tiếp cởi mở, phân công và quy định rõ ràng, chia sẻ trách nhiệm...
Những chuẩn mực chung trở nên quan trọng khi làm tăng khả năng dự báo hành vi của các thành viên, làm giảm những rắc rối trong quan hệ giữa thành viên và cho phép thành viên thể hiện giá trị trung tâm của nhóm. Còn thiết kế công việc hợp lý sẽ giúp xác định nhiệm vụ và ý nghĩa công việc, tăng tính tự chủ, tận dụng cơ hội sử dụng kỹ năng và tài năng khác biệt, dẫn đến thành quả tốt hơn.
Người quản trị còn phải biết cách hướng sự tương tác giữa các thành viên trong nhóm từ phía cạnh tranh, xung đột, tâm lý thắng thua sang hành vi quan tâm đồng đội, cùng nhau làm việc và hỗ trợ nhau vì mục tiêu chung, lợi ích chung. Khi xuất hiện mầm mống xung đột, biết xử lý khéo léo và dùng kỹ thuật quản trị xung đột để duy trì không khí thân thiện và hợp tác ở nơi làm việc.


LS. Nguyễn Vinh Huy - Chủ tịch HĐQT Hệ thống luật Thịnh Trí, Doanh nhân tiêu biểu TP.HCM năm 2018, nói về tác động của CPTPP: Doanh nghiệp cần chủ động ứng phó với cơ hội và thách thức.


* Báo Doanh nhân Sài Gòn: Thưa ông, Hiệp định CPTPP khi có hiệu lực sẽ có tác động trực tiếp tới những vấn đề pháp lý cụ thể gì mà doanh nghiệp Việt Nam cần phải quan tâm?


- LS. Nguyễn Vinh Huy: CPTPP là hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, không chỉ đề cập đến các lĩnh vực truyền thống mà còn bao gồm cả những cam kết về những vấn đề mới, phi truyền thống. Cụ thể như sở hữu trí tuệ, lao động, môi trường, mua sắm của chính phủ, doanh nghiệp nhà nước với các yêu cầu và tiêu chuẩn cao về tính minh bạch, cơ chế giải quyết tranh chấp có tính ràng buộc và chặt chẽ.
Khi có hiệu lực, CPTPP sẽ tác động trực tiếp tới các doanh nghiệp Việt Nam. Đó vừa là cơ hội và cũng vừa là thách thức lớn đối với các doanh nghiệp. Chính vì vậy, các doanh nghiệp cần chủ động tìm hiểu các cam kết CPTPP liên quan tới mình để đánh giá các cơ hội cũng như thách thức nhằm xây dựng kế hoạch ứng phó và tận dụng, đặc biệt cần phải quan tâm tới các vấn đề sau đây: các thông tin về đầu tư, thương mại, sở hữu trí tuệ, ưu đãi thuế quan theo hiệp định, lao động, đấu thầu mua sắm công...
* Theo ông, trong trường hợp những quy định hiện hành của Việt Nam chưa phù hợp với các thỏa thuận trong hiệp định thì các doanh nghiệp phải xử lý thế nào?
- Căn cứ theo khoản 5 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015: "Việc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật trong nước không được cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật trong nước và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó, trừ Hiến pháp".
Vì vậy, khi Việt Nam đã là một thành viên của CPTPP thì theo cách áp dụng pháp luật Việt Nam sẽ ưu tiên áp dụng Hiệp định nếu có mâu thuẫn với luật trong nước, trừ những trường hợp điều ước quốc tế đó trái với Hiến Pháp thì không được ưu tiên.
Hiện nay, CPTPP đã có hiệu lực. Tuy nhiên, các quy định trong hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam vẫn chưa phù hợp nhất quán với hiệp định. Đó chính là một trong những khó khăn lớn đối với các doanh nghiệp và nhà nước Việt Nam.
* Nay hiệu lực thực thi CPTPP có giúp gỡ khó cho doanh nghiệp Việt Nam trong lĩnh vực này không?
- Khung pháp lý của các Hiệp định Thương mại tự do, đặc biệt là các hiệp định Thương mại tự do thế hệ mới sẽ là khuôn mẫu cho việc vận hành các nền kinh tế và xây dựng, hoàn thiện các thiết chế của Việt Nam trong thế kỷ XXI. Với các Hiệp định này mà đặc biệt là CPTPP, chúng ta sẽ tăng tốc mở cửa với thế giới, tạo lập một nền kinh tế thị trường theo đúng nghĩa của nó - cơ sở để xây dựng một nền kinh tế có sức cạnh tranh với những quy phạm, quy định cao hơn, toàn diện hơn.
Cụ thể, trên cơ sở các cam kết được quy định trong các hiệp định như CPTPP thì các công ty, tập đoàn nước ngoài sẽ có khả năng đệ đơn kiện chính phủ của các quốc gia thành viên tại tòa án đặc biệt để giải quyết các vấn đề tranh chấp, nếu các quốc gia này ban hành các chính sách, đạo luật trái với các thỏa thuận, cam kết. Tòa án đặc biệt này có toàn quyền buộc chính phủ của các quốc gia có hành vi vi phạm các thỏa thuận trong hiệp định đền bù không những cho các thiệt hại đã xảy ra, mà còn cho những mất mát về cơ hội trong tương lai của các tập đoàn, doanh nghiệp quốc tế.
* CPTPP là động lực để Nhà nước tiếp tục thúc đẩy cải cách thể chế nhiều hơn nữa. Theo ông, những nhóm pháp lý nào Nhà nước nên ưu tiên, qua đó giúp doanh nghiệp tận dụng cơ hội?
- Để các doanh nghiệp có thể tận dụng tốt những cơ hội đó, Nhà nước cần phải bắt đầu cải thiện thể chế và thay đổi từ chính sách; phải rà soát, sửa đổi hệ thống pháp luật trong khá nhiều lĩnh vực; sửa đổi các quy định pháp luật nội địa theo hướng để vừa có thể bảo đảm tuân thủ cam kết CPTPP, vừa mang lại lợi ích tốt nhất cho Việt Nam.
Nhà nước cần chuyển hóa một cách thống nhất, hiệu quả các cam kết vào hệ thống chính sách, pháp luật, tổ chức thực thi các cam kết minh bạch, thuận lợi, cải cách thủ tục hành chính, hoàn thiện môi trường kinh doanh để doanh nghiệp giải phóng nguồn lực, tận dụng tốt nhất các cơ hội.
Trước hết, Chính phủ tiếp tục cho triển khai việc rà soát, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật cần thiết để thực thi các cam kết của CPTPP. Chúng ta cần phải tiếp cận các quy định trong CPTPP để điều chỉnh, bổ sung những nội dung cần thiết; sửa đổi một số điều trong hệ thống pháp luật Việt Nam có liên quan.
Chính phủ cần phải tiếp tục xây dựng một chính phủ kiến tạo, đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế, quyết liệt đổi mới và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước. Đẩy mạnh cải cách và đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo sự liên thông giữa các bộ, ngành để nâng cao tính cạnh tranh của môi trường kinh doanh, thúc đẩy kết nối và hợp tác giữa các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài.
* Trân trọng cảm ơn luật sư.
Nguồn: https://doanhnhansaigon.vn/chuyen-lam-an/cptpp-co-hieu-luc-doanh-nghiep-viet-chu-dong-ung-pho-voi-co-hoi-va-thach-thuc-the-nao-1090164.html


Theo Thủ tướng, việc đổi mới tư duy về quản trị Nhà nước không chỉ thúc đẩy sự phát triển công nghệ mà còn phải bảo vệ cuộc sống của người dân an toàn trong không gian số.
Ngày 8/9, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc làm việc với Bộ Thông tin và Truyền thông (TT&TT). Cùng dự có Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Võ Văn Thưởng, đại diện lãnh đạo các bộ, ngành Trung ương, các doanh nghiệp, tập đoàn lớn trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông.
Tại cuộc làm việc, quyền Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông (TT&TT) Nguyễn Mạnh Hùng đã báo cáo những nội dung cơ bản về hoạt động của Bộ trong thời gian qua, tập trung vào hai lĩnh vực chính là công nghệ và tuyên truyền.
Theo đó, ở lĩnh vực viễn thông, gần 1 triệu km cáp quang đã được triển khai đến tận thôn, bản, xã, phường của 63/63 tỉnh, thành phố trên cả nước và Việt Nam trở thành một trong những nước có tỷ lệ cáp quang hóa cao nhất thế giới. Sóng di động đã phủ tới 99,5% dân số (trong đó vùng phủ 3G, 4G phục vụ 98% dân số); hình thành xa lộ thông tin kết nối với toàn thế giới (băng thông quốc tế 6 Tbps). Trong giai đoạn tới, cách mạng công nghiệp 4.0 tạo ra nhu cầu kết nối, hạ tầng viễn thông của Việt Nam đã sẵn sàng cung cấp kết nối dung lượng, chất lượng cao đáp ứng cho ứng dụng loT trên nền tảng mạng 4G, 5G.
Trong lĩnh vực công nghệ thông tin, với trên 28.000 doanh nghiệp công nghệ thông tin, 900.000 lao động, đây là một trong những ngành kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất cả nước, đạt tăng trưởng trên 20%/năm trong hơn 10 năm qua. Năm 2017 là năm ngành công nghệ thông tin có tốc độ tăng trưởng cao, đạt khoảng 35,3%, doanh thu 91,6 tỷ USD.
Bộ đã tích cực chủ động làm việc với các nhà mạng nước ngoài để thiết lập cơ chế trong việc ngăn chặn, gỡ bỏ các thông tin xấu độc, vi phạm quy định pháp luật Việt Nam. Đẩy mạnh kiểm tra, rà soát, phát hiện, chấn chỉnh và xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định của pháp luật về báo chí, thông tin trên mạng Internet.
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu kết luận buổi làm việc với Bộ TT&TT. Ảnh: Quang Hiếu.
Mong Bộ TT&TT đi đầu đổi mới tư uySau khi lắng nghe các ý kiến phát biểu về tình hình thời gian qua và giải pháp cho sự phát triển của ngành TT&TT, kết luận cuộc làm việc, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh vai trò, trách nhiệm của Bộ TT&TT trong phát triển lĩnh vực quản lý để đóng góp vào khát vọng của dân tộc trong lĩnh vực công nghệ, báo chí, khát vọng đưa Việt Nam trở thành cường quốc về công nghệ.
Đánh giá việc thực hiện các nhiệm vụ nêu trên, Thủ tướng nhìn nhận trong thời gian qua, ngành tăng trưởng cao hơn mức tăng trưởng GDP, tăng đến 18% về doanh thu. Cùng với đó, báo chí cách mạng có đóng góp quan trọng vào sự phát triển đất nước. Ngành có nhiều nhân tài, nhiều doanh nghiệp, tập đoàn công nghệ, trong đó có tập đoàn “tỷ USD”.
Với sự tham mưu của Bộ TT&TT và các bộ, ngành chức năng khác, Chính phủ đã chủ động đón bắt thời cơ cách mạng công nghiệp 4.0. Thủ tướng cũng đánh giá cao Bộ đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan bảo đảm an toàn, an ninh thông tin. Quyền Bộ trưởng TT&TT đã đoàn kết, thống nhất, tập hợp lực lượng khoa học công nghệ và doanh nghiệp, một lực lượng quan trọng đối với sự phát triển đất nước.
Tuy nhiên, theo Thủ tướng, còn tồn tại một số mặt hạn chế, yếu kém như triển khai quy hoạch báo chí chậm. Quản lý báo chí, mạng xã hội còn nhiều hạn chế, bất cập. Tình trạng báo chí bị thương mại hóa với việc đăng tải thông tin, hình ảnh thiếu văn hóa, thiếu nhân văn và phản giáo dục, tác động tiêu cực, làm suy giảm niềm tin của công chúng đối với báo chí. Thông tin phản bác, xử lý khủng hoảng truyền thông chưa kịp thời.
Công tác tham mưu cơ chế, chính sách vẫn còn những trường hợp chậm, chất lượng chưa cao, thậm chí còn để xảy ra sai sót, vi phạm.
Việc phân bổ băng tần viễn thông phục vụ phát triển, hoàn thiện chất lượng dịch vụ mạng 4G, tiến tới 5G còn lúng túng, chậm trễ (tốc độ mạng 4G tại Việt Nam đứng thứ 75 trên thế giới). 
Việt Nam là một trong những nước có nguy cơ nhiễm mã độc cao trên thế giới, là một trong các nước đứng đầu về tỷ lệ lây nhiễm phần mềm độc hại qua các thiết bị đa phương tiện, tuy nhiên còn lúng túng, bị động trong việc khắc phục.
Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, Thủ tướng cho rằng, chúng ta cần tiến tới một nền kinh tế số, xây dựng Chính phủ điện tử, tiến tới Chính phủ số, phát triển thương mại điện tử, xây dựng thành phố thông minh, áp dụng nhanh hơn, tốt hơn trí tuệ nhân tạo, Internet kết nối vạn vật (IoT), tự động hóa, robot, dữ liệu lớn… đang làm thay đổi mô hình kinh doanh, phương thức hoạt động trên mọi lĩnh vực.
Toàn cảnh buổi làm việc của Thủ Tướng với Bộ TT&TT 

Việc đổi mới tư duy về quản trị nhà nước không chỉ thúc đẩy sự phát triển công nghệ mà còn phải bảo vệ cuộc sống của người dân an toàn trong không gian số. Những vấn đề này rất quan trọng mà “các đồng chí là người hướng dẫn về mặt quản lý Nhà nước để thực hiện, thúc đẩy”, Thủ tướng nói.
Để bắt kịp cách mạng công nghiệp 4.0, cần tiến hành số hóa quốc gia càng nhanh càng tốt. Chuyển đổi số phải là nền tảng đi sâu vào mọi ngành, lĩnh vực, tổ chức, doanh nghiệp của cả khu vực công và tư. Bộ TT&TT phải giữ vai trò dẫn dắt công tác này, đi đầu trong đổi mới tư duy, thử nghiệm những cách làm mới, chủ động đề xuất cơ chế chính sách có tính đột phá, cùng các bộ, ngành liên quan tích cực hợp tác, hỗ trợ để nước ta có thể trở thành một trong những nước đi đầu trong cách mạng công nghiệp 4.0.
(Theo chinhphu.vn)

3 Sai lầm kinh điển khi tuyển dụng nhân sự

Một khi tuyển sai nhân sự không những gây những tổn thất về thời gian, tiền bạc mà còn tốn thời gian của nhân sự ấy. Phỏng vấn, tuyển dụng nhân sự và dẫn dắt nhân viên mới tuyển hòa nhập với môi trường mới là một quá trình mất khá nhiều thời gian, nỗ lực mà nhà quản lý cần quan tâm đúng mức.
Đối với một nhà kinh doanh mới, thì đây là câu chuyện không dễ dàng gì. Bởi môi trường kinh doanh không phải lúc nào cũng màu hồng như các bạn nhân sự mong muốn, vì thể nhà kinh doanh không những làm chủ mà còn phải là một người quản lý anh tài..
Theo Whitney Johnson, một chuyên gia về quản trị nhân sự, tác giả của cuốn Build an A-Team (tạm dịch: Xây dựng Đội ngũ nhân sự hạng A), nhà quản lý mới thường bị chi phối bởi những động cơ về tình cảm mang tính vô thức sau đây khi ra các quyết định tuyển dụng. Sau đây là 3 sai lầm điển hình khi tuyển một nhân sự.

Đi tìm những cộng sự giống mình.

3 Sai lầm kinh điển khi tuyển dụng nhân sự 1
Đi tìm những “bản sao” của mình

Lauren Rivera, một nhà nghiên cứu ở Tây Bắc Mỹ nói rằng phần lớn những gì mà chúng ta làm đều nhắm đến “cái tôi” của mình. Nghiên cứu của bà đưa ra kết luận: “Các nhà phỏng vấn không được trang bị đầy đủ những tiêu chí mà công ty đặt ra cho ứng viên trong khâu tuyển dụng có khuynh hướng nhìn vào bản thân mình để đánh giá người khác.
Điều này dẫn đến tình trạng những ứng viên có chất lượng nhất là những ứng viên giống với người phỏng vấn nhất”. Và hậu quả là những nhân viên tân tuyển sẽ sớm cảm thấy chán hoặc lo lắng vì không còn “chỗ” để phát triển thêm nữa (có nghĩa là họ đã đạt được những tiêu chí cao nhất theo đánh giá của nhà quản lý và không còn động lực để phấn đấu thêm nữa). Johnson cho rằng nhà quản lý không nhất thiết phải đi tìm những nhân viên là “bản sao” của mình. Tuyển dụng một nhân sự mới là cơ hội để công ty sáng tạo và đổi mới. Nếu chỉ đơn thuần tuyển dụng một người để chia sẻ những công việc hiện tại của mình thì, Johnson khuyên, tốt nhất nhà quản lý nên giao phó những việc ấy cho những nhân viên hiện tại của tổ chức, tạo điều kiện để họ thăng tiến. Hoặc nhà quản lý có thể chọn giải pháp ứng dụng các công nghệ, công cụ mới để cải thiện năng suất lao động thay vì tuyển thêm người.

Đi tìm những người “dọn rác” cho mình.

Đi tìm những người “dọn rác” cho mình.
Đi tìm những người “dọn rác” cho mình.

Theo Johnson, mặc dù đây là một động cơ dễ hiểu nhưng cũng là một sai lầm nguy hiểm nhất. Nhà quản lý sẽ tránh được những công việc, nhiệm vụ mà mình cảm thấy quá thách thức hoặc quá tẻ nhạt. Nhưng đổi lại, nhà quản lý sẽ gặp rắc rối khi “đẩy” những công việc nhàm chán ấy cho các nhân viên mới tuyển. Điều đó thể hiện sự thiếu tôn trọng nhân viên mới, biến họ trở thành nơi “xả rác” của mình.
Johnson cho rằng nhà quản lý không nhất thiết phải đi tìm những nhân viên là “bản sao” của mình. Tuyển dụng một nhân sự mới là cơ hội để công ty sáng tạo và đổi mới. Nếu chỉ đơn thuần tuyển dụng một người để chia sẻ những công việc hiện tại của mình thì, Johnson khuyên, tốt nhất nhà quản lý nên giao phó những việc ấy cho những nhân viên hiện tại của tổ chức, tạo điều kiện để họ thăng tiến. Hoặc nhà quản lý có thể chọn giải pháp ứng dụng các công nghệ, công cụ mới để cải thiện năng suất lao động thay vì tuyển thêm người. Đi tìm những người “dọn rác” cho mình. Theo Johnson, mặc dù đây là một động cơ dễ hiểu nhưng cũng là một sai lầm nguy hiểm nhất. Nhà quản lý sẽ tránh được những công việc, nhiệm vụ mà mình cảm thấy quá thách thức hoặc quá tẻ nhạt. Nhưng đổi lại, nhà quản lý sẽ gặp rắc rối khi “đẩy” những công việc nhàm chán ấy cho các nhân viên mới tuyển. Điều đó thể hiện sự thiếu tôn trọng nhân viên mới, biến họ trở thành nơi “xả rác” của mình.
Trong một số trường hợp, nhà quản lý còn có thể tuyển dụng nhân viên mới không phải để thực hiện những công việc nhàm chán mà để thực thi một chính sách không lành mạnh. Johnson nhắc lại trải nghiệm của mình khi được mời tham dự một buổi phỏng vấn vào vị trí giám đốc tài chính (CFO) của một công ty công nghệ đang tăng trưởng nhanh. “Có rất nhiều nhiệm vụ mà một CFO có thể thực hiện nhưng vị giám đốc khi phỏng vấn tôi đã nói rằng anh ta muốn tuyển một người để quản lý nhân viên về những hạng mục cấm chi tiêu. Tôi nghĩ rằng nhà quản lý ấy đang đi tìm một “tay sai” chứ không phải một cộng sự”, Johnson kể. Theo Johnson, những nhà quản lý như thế thường không nhận thức được rằng thực tế họ đang muốn tìm một “người thế thân”. Trong thâm tâm, họ vẫn muốn mình là một nhà quản lý được nhiều nhân viên yêu mến. Nhưng việc họ tuyển nhân viên mới để làm những việc bất thường như cắt giảm chi phí, sa thải nhân sự hay thực thi một số quy định“hà khắc” khác là một sách lược gây lãng phí nguồn nhân tài.
Trái với trường hợp thứ nhất, nếu không tuyển dụng nhân sự mới, thay vì chuyển giao các công việc “rác” cho nhân viên hiện tại, Johnson khuyên, nhà quản lý cần đối diện với chúng và tự bản thân mình giải quyết dứt điểm chúng.

Đi tìm những người bù đắp kiến thức cho mình.

Đi tìm những người bù đắp kiến thức cho mình.
Đi tìm những người bù đắp kiến thức cho mình.

Có một số nhiệm vụ đòi hỏi những kiến thức chuyên môn hay kỹ năng mà bản thân nhà quản lý không có. Và đây chính là động cơ để nhà quản lý đi tìm ứng viên có những kiến thức, kỹ năng này. Tuy nhiên, Johnson cho rằng, cách làm này có thể dẫn đến một số vấn đề tiêu cực. Đôi khi, sẽ hình thành một sự ganh tỵ “ngầm” từ chính nhà quản lý khi cảm thấy vị trí của mình có thể bị “đe dọa” vì nhân viên có được những kỹ năng mà mình không có. Hoặc ở một thái cực khác, nhà quản lý có thể “tôn sùng” những nhân viên này quá mức.
Trong cả hai trường hợp nói trên, nhà quản lý đều có thể biểu hiện cảm xúc thái quá hoặc đãi ngộ quá nhiều về mặt tài chính đối với những nhân viên sở hữu tài năng mà mình không có. Chưa dừng lại ở đó, nếu không hiểu rõ những gì nhân viên này đang làm, nhà quản lý sẽ không vạch ra được lộ trình phát triển nghề nghiệp rõ ràng cho họ đồng thời không khai thác tối đa tài năng và hiệu suất làm việc của họ. Johnson khuyên các nhà quản lý nên giải quyết bài toán thiếu kiến thức chuyên môn của bản thân bằng cách tuyển dụng nhân sự với nhiều kỹ năng, ý tưởng, kinh nghiệm đa dạng. Để làm điều đó, nhà quản lý cần mở lòng để tuyển dụng cả những nhân sự không yêu thích mình, luôn thách thức các suy nghĩ của mình hoặc nói thẳng những điều mà mình không biết.



Đâu là những “căn bệnh” phổ biến mà người quản trị thường gặp phải?
Kỹ năng quản trị phải thể hiện như thế nào?
Những yếu tố nào ảnh hưởng khả năng quản trị của doanh nghiệp Việt?


1.      Thiếu tầm nhìn chiến lược
Thiếu tầm nhìn chiến lược
Tầm nhìn chiến lược đóng vai trò then chốt cho sự phát triển và vươn xa của công ty, vấn đề thiếu tầm nhìn chiến lược này rất phổ biến trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các startup mới thành lập tại Việt Nam. Một người lãnh đạo thiếu tầm nhìn sẽ khiến hoạt động công ty bị trì trệ và ngày càng đi vào bế tắc.
Vậy tầm nhìn chiến lược được đánh giá qua những tiêu chí nào?
Thứ nhất là phải có khả năng đánh giá năng lực về điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải biết thế mạnh và điểm chưa mạnh của mình để phát huy đúng sở trường và cải thiện tình hình để không bị lép vế so với những đối thủ cạnh tranh. Người lãnh đạo phải nhìn thấy nội lực và tiềm lực của doanh nghiệp để có định hướng phát triển đúng đắn.
Thứ hai, vấn đề công nghệ và kinh tế không thể xem nhẹ. Trong hoạch định chiến lược của công ty, công nghệ phải là một trong những nhân tố then chốt chú trọng vào vì  chính công nghệ sẽ làm một doanh nghiệp nổi bật trên thị trường. Sau khi xem xét vấn đề tài lực, công nghệ của công ty thì phải xác định được đối tượng khách hàng đinh mà doanh nghiệp nhắm đến. Phải có khách hàng cụ thể để lấy đó làm trung tâm của sự phát triển, qua đó giúp xây dựng nguồn khách hàng thân thiết với doanh nghiệp.
Thứ ba, “biết mình biết ta trăm trận trăm thắng”, phải hiểu đối thủ trên thị trường gồm những ai,  điểm mạnh, điểm yếu của họ và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ đó để đưa ra những nhận định chính xác khi kinh doanh và phát triển kinh doanh.
Thứ tư là phải biết đề ra những mục tiêu dài hạn và ngắn hạn, phải có nhận xét, đánh giá qua từng thời kỳ để nhận biết doanh nghiệp đã đạt được gì qua thời gian đó.
2.      Thiếu niềm tin vào nhân viên
Tại Việt Nam, rất nhiều trường hợp người lãnh đạo, người cấp trên không tin tưởng nhân viên, luôn giải quyết công việc một mình. Điều này khiến cho họ luôn bị stress vì phải giải quyết khối lượng công việc quá lớn, không thể hiện được khả năng quản trị trong doanh nghiệp.
Hiện tượng độc quyền khi làm việc là không hiếm tại nước ta, thực tế là tại các công ty nhỏ và startup, tình trạng này càng phổ biến hơn khi người có trình độ và khả năng lại ít, chỉ có người lãnh đạo là chuyên về vấn đề đó nên buộc họ phải giải quyết. Vì thế, họ không còn thời gian để xem xét các báo cáo hay hoạch định chiến lược cho công ty nữa.
3.      Tài chính không minh bạch
Tài chính không minh bạch
Nếu doanh nghiệp không thông báo với nhân viên về mức độ tài chính của mình thì việc quản lý, báo cáo, đánh giá, nhậ xét chi tiêu hằng tháng là rất khó để đánh giá. Doanh nghiệp muốn phát triển thì phải có sự phân bổ sử dụng vốn hợp lý, có kế hoạch tăng cường đầu tư để tăng vốn. Người quản trị phải biết được chính xác đánh giá tài chính của công ty để có sự điều chỉnh hợp lý, nếu không việc kinh doanh sẽ không tìm được giải pháp để mở rộng hoạt động.
4.      Hay tuyển người thân vào làm
Công thức chung cho một doanh nghiệp thất bại là: mới thành lập + thiếu tầm nhìn + sếp ôm việc + tài chính không minh bạch + nhân viên tuyển theo diện người quen = thất bại.
Vấn đề tuyển người quen là một trong những thực trạng phổ biến tại Việt Nam, việc tuyển dụng này sẽ dẫn đến sở hữu nhân viên không chất lượng, hay ỷ lại và không chuyên tâm làm việc
5.      Hệ thống không hiệu quả
Hệ thống không hiệu quả
Từ việc thiếu tầm nhìn và nhân lực có khả năng, tất cả hoạt động phân phối hàng hay marketing thương hiệu cũng bị ảnh hưởng, nhắm đối tượng không hiệu quả, làm trì trệ hoạt động của doanh nghiệp, khiến doanh nghiệp mất vốn và đầu tư mà không thể lấy lại lợi nhuận.
Nếu người lãnh đạo không thể hiện được kỹ năng lãnh đạo của mình, việc quản trị dễ dàng biến thành ác mộng và chấm dứt quá trình kinh doanh của bất kỳ doanh nghiệp nào. Do đó, người quản trị cần tránh 5 điều tối kỵ trên để hệ thống doanh nghiệp hoạt động hiệu quả và lâu dài.

Doanh Nhân Việt Nam

{facebook#https://www.facebook.com/thanhtintk} {twitter#https://twitter.com/TeraApp_Mobile} {google-plus#https://plus.google.com/106770213964400086250} {pinterest#https://www.pinterest.com/TeraApp/} {youtube#https://www.youtube.com/TeraApp} {instagram#https://www.instagram.com/teraapp/}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Hình ảnh chủ đề của nicodemos. Được tạo bởi Blogger.
Javascript DisablePlease Enable Javascript To See All Widget